Tôi tỉnh dậy trong khách sạn với mùi rượu còn mắc trên cổ họng và một chàng trai lạ nằm ngay cạnh mình. Tôi đá anh ta xuống thảm, kéo chăn lên tận cằm và hỏi mình đang ở đâu.
“Cô là người đạp cửa trước.”
Anh ta nói rất bình thản, như thể tối qua người mất kiểm soát không phải tôi. Tôi nhìn khuôn mặt đó, đẹp đến mức khó tin, rồi càng giận hơn vì anh ta vẫn còn đủ tỉnh để chọc tôi.

Tôi ném vội 2 triệu đồng lên chăn. Tôi nói mình không có hứng cãi nhau với một cậu trai sống bám.
Anh ta nhặt điện thoại tôi lên, đưa sát mặt tôi và hỏi: “Tìm cái này à?”
Tôi chụp lấy máy, suýt ngã ngửa ra sau, còn anh ta chỉ cười. Cái cười đó làm tôi bực đến mức nếu trong tay có thêm một cái gối nữa, chắc tôi đã ném luôn.
Đến lúc xem lại camera hành lang, tôi mới biết sự thật. Người đạp nhầm cửa là tôi, người xông vào phòng người khác cũng là tôi, và người tôi vừa chửi là biến thái lại là người bị tôi kéo lên giường như một con mèo say mất kiểm soát.
Tôi muốn chui xuống sàn luôn tại chỗ.
Duy không cười nhạo tôi. Anh chỉ ngồi yên, rồi nói: “Vậy cô tính chịu trách nhiệm thế nào?”
Tôi nổi nóng ngay lập tức. Tôi bảo anh đừng hòng đòi tiền tôi, càng đừng hòng biến tôi thành trò cười để sống qua ngày.
“Tôi không muốn tiền,” anh đáp. “Tôi muốn cô làm bạn gái tôi.”
Tôi gần như nghẹn thở. Mười phút sau, chúng tôi vẫn cãi nhau như hai kẻ vừa gặp đã muốn bóp cổ nhau. Cuối cùng tôi gật đầu, không phải vì tôi yếu đuối, mà vì đôi mắt đó quá tự tin và giọng anh ta quá bình tĩnh.
Đến khi tỉnh rượu hẳn, tôi mới biết anh là sinh viên năm cuối của một trường đại học lớn. Ban ngày anh đi dạy thay vài tiết ở một trường tư thục, ban đêm lại nhìn tôi bằng ánh mắt như thể anh đã nắm sẵn nhịp tim của tôi trong tay.
Tôi vừa nghĩ mình chỉ nhặt nhầm một cậu bạn trai trẻ, vừa lao đến công ty với đầu óc quay như chong chóng. Trợ lý chặn tôi ngay ở cửa và báo tin như sét đánh: tất cả nhà cung cấp vải đã đồng loạt khóa sổ.
Bộ sưu tập mới của tôi chỉ còn chưa đầy một tháng là lên sàn. Còn tôi thì bị chặn đúng chỗ sống còn nhất của nghề này: VẢI.
Tôi chạy khắp các xưởng. Tôi gọi từng người quen. Tôi lục lại từng danh bạ cũ. Câu trả lời nào cũng giống nhau đến lạnh người: họ đều nói hàng đã được giữ hết.
Tôi hiểu ngay có người đang cố tình đâm sau lưng tôi.
Khi tôi quay lại văn phòng, cả tầng lầu im đến lạ. Mọi người nhìn tôi như thể đang chờ xem tôi sẽ ngã ở đâu. Tôi đẩy cửa phòng riêng ra thì thấy Duy đang ngồi chéo chân trên sofa của tôi, tay cầm điện thoại, bên cạnh là một bó hoa hồng đỏ lớn đến chói mắt.
Ngoài hành lang, Khải đã đứng sẵn.
Anh ta nói rất nhẹ: “Đừng mang người lạ vào công ty nữa. Nếu có chuyện với bản thảo, em tự mà chịu.”
Tôi chưa kịp trả lời thì Duy đã đứng dậy, bước tới ngay sau lưng tôi và đặt tay lên vai tôi như thể chuyện đó vốn thuộc về mình. “Xin chào,” anh nói. “Tôi là bạn trai của cô ấy.”
Tôi đỏ mặt đến mức chỉ muốn biến mất.
Khải nhìn anh, ánh mắt lạnh đi thấy rõ. Còn tôi thì lần đầu tiên cảm nhận được thứ khó chịu mà chỉ người đang mất quyền kiểm soát mới có.
Khi tôi hỏi sao anh xuất hiện ở công ty, Duy chỉ cười. “Tôi đến để hỗ trợ bạn gái.” Rồi anh cúi thấp giọng hơn một chút. “Nếu em không muốn tôi đến đây mỗi ngày, tốt nhất đừng để tôi thấy em đứng một mình nữa.”
Tôi tưởng anh chỉ là một chàng trai có khuôn mặt đẹp và cái miệng rất biết gây rối. Tôi đã sai.
Tối đó, tôi lái xe đưa anh về. Anh nói mình chỉ đang dạy thay vài tiết ở một trường tư thục gần trung tâm. Nhưng khi anh đọc ra tên khu kho hàng và các tuyến giao nhận, tôi bắt đầu thấy có gì đó không khớp.
Vài phút sau, điện thoại tôi rung lên.
Một loạt số liên lạc lạ hiện ra, kèm theo tên năm công ty trong ngành dệt may. Tôi kéo xuống đến cuối danh sách và thấy tên người gửi là Duy Dương.
Tôi ngồi chết lặng trên ghế lái.
Không phải cậu sinh viên nghèo. Không phải cậu bạn trai sống bám. Người tôi vừa đá khỏi giường hóa ra lại là người nắm đường sống của nguồn vải trong cả thành phố.
Sáng hôm sau, tôi bước vào phòng họp với đôi mắt thâm quầng và mùi cà phê còn bám trên tay áo. Khải đã ngồi chờ ở đó như thể anh ta đang thương hại tôi.
Anh ta nói bằng giọng rất tử tế: “Nếu em không xoay nổi vải, anh sẽ cho người khác nhận phần sáng tạo.”
Tôi nhìn anh, rồi nhìn tập hồ sơ đơn hàng nằm trên bàn. Một cánh cửa bị khóa không đáng sợ bằng người từng cầm chìa khóa rồi giả vờ mình vô can.
“Anh đang nói về công việc,” tôi đáp, “hay đang nói về quyền cướp thứ em đã dựng bằng thức trắng?”
Khải siết ngón tay lên mặt bàn. “Em quá cảm tính.”
“Không.” Tôi giữ giọng rất đều. “Em chỉ không còn ngu đến mức tin anh nữa.”
Ngay lúc đó, Duy xuất hiện ở sảnh công ty cùng cà phê, túi mẫu, giấy giới thiệu kho hàng và một tập hồ sơ dày cộm. Cả tầng giả vờ bận, nhưng không ai rời mắt khỏi anh.
Anh đặt tập hồ sơ xuống bàn tôi, rồi nói rất khẽ: “Em muốn tôi mở thêm bao nhiêu cửa, tôi đều có thể. Nhưng em phải tự bước qua.”
Tôi mở tập giấy ra, và ngay lập tức hiểu mình đã chạm vào phần bẩn nhất của cuộc chơi. Đó không chỉ là chuyện nhà cung cấp. Đó là đường dây giữ hàng, số đặt chỗ, mã bình phong và một cú khóa nguồn được thực hiện trước cả khi công ty tôi báo thiếu nguyên liệu.
Tôi dành cả đêm để đối chiếu thư điện tử, số đơn hàng và các tên công ty liên quan. Càng đọc, tôi càng lạnh tay.
Có một cái tên lặp lại nhiều lần trên cùng chuỗi giữ hàng. Nó không phải tên nhà cung cấp. Nó là tên một người trong công ty, người vẫn ngồi trong phòng họp với tôi mỗi sáng, vẫn cười với tôi như bạn cũ.
Một cơn giận rất lạ trồi lên trong ngực tôi. Nó không còn nóng nữa. Nó sắc.
“Anh làm gì cũng được,” tôi tự nhủ khi in toàn bộ tài liệu ra. “Nhưng đừng để tôi phải nhìn anh thêm một lần mà vẫn im lặng.”
Một cánh cửa bị khóa không đáng sợ bằng người từng cầm chìa khóa rồi giả vờ mình vô can.
Sáng hôm sau, tôi mang tất cả vào phòng Khải.
Tôi đặt từng trang giấy xuống bàn anh như đặt dao.
“Anh có biết em ghét nhất điều gì không?” tôi hỏi. “Không phải thất bại. Là cảm giác bị ai đó dùng chính niềm tin của mình để xiên ngược lại.”
Khải đọc đến đâu, mặt anh ta đổi đến đó. Anh cố giữ bình tĩnh, nhưng ngón tay đã siết chặt đến trắng bệch.
“Em đang hiểu lầm,” anh nói.
“Tôi không hiểu lầm.” Tôi chỉ vào dòng thư điện tử cuối cùng. “Anh đã cố khóa nguồn VẢI của tôi để ép tôi giao quyền sáng tạo.”
Anh bật dậy. Rồi lại ngồi xuống. Cái vững vàng mà anh luôn khoác lên người bỗng rạn ra ngay trước mặt tôi.
Tôi không gào. Tôi chỉ công bố mọi thứ trước đội mẫu và người mua: thư điện tử, lịch đặt hàng, chuỗi bình phong, bảng đối chiếu giao nhận. Tôi nói từ giây phút đó, tôi rời khỏi công ty của anh.
Không ai nói gì trong vài giây đầu.
Rồi vài người bắt đầu nhìn Khải với ánh mắt khác hẳn. Cái kiểu nhìn của người vừa nhận ra một bộ mặt không hề đẹp như họ từng nghĩ.
Tôi bước ra khỏi căn phòng đó với hai bàn tay trống, nhưng lưng lại thẳng chưa từng có. Duy đi cạnh tôi, không đụng vào, chỉ giữ nhịp bước đủ để tôi biết mình không đi một mình.
Tôi mở xưởng thiết kế riêng và đặt tên nó là Phòng Nhầm.
Nghe có vẻ buồn cười. Nhưng với tôi, đó là cách tốt nhất để nhắc mình rằng sai lầm không phải thứ phải giấu. Nó chỉ là nguyên liệu chưa được may lại đúng cách.
Duy không giành công lao. Anh cũng không chen vào bản vẽ của tôi. Anh chỉ đưa tôi kho vải, danh sách xưởng, và những lô hàng tồn mà người khác bỏ qua.
Tôi bắt đầu ghép lại bộ sưu tập bằng những thứ từng bị xem là vô dụng.
Mỗi đường ráp mới là một lần tôi nhặt lại lòng tự trọng. Mỗi cuộn vải cũ là một vết xước được biến thành ý đồ thiết kế. Và càng làm, tôi càng hiểu mình không hỏng vì đêm say đó.
Tôi chỉ bị đẩy khỏi phiên bản cũ của chính mình.
Ngày trình diễn đến, bộ sưu tập của đối thủ xuất hiện trước. Nhìn qua thì đẹp. Nhìn kỹ thì tôi thấy ngay cái bóng của những bản phác thảo từng bị lấy đi.
Tôi không hoảng. Tôi đã đi qua đoạn tệ nhất rồi.
Mẫu đầu tiên của tôi bước ra sau đó, lạnh, gọn và sắc như vết cắt. Cả khán phòng im bặt.
Những lớp vải bị bỏ quên được tôi biến thành cấu trúc mới. Những khoảng trống do bị khóa hàng lại trở thành điểm nhấn cho cả bộ sưu tập.
Đến mẫu cuối cùng, đèn quét qua chiếc áo khoác màu ngà, đường viền đỏ thẫm, và phần lưng được xử lý như một cánh cửa đang mở dở. Tiếng máy ảnh nổ liên hồi. Tiếng thở dồn dập cũng vậy.
Khải ngồi ở hàng đầu, mặt trắng đi trước khi tôi kịp bước ra chào.
Tôi giơ cao tập hồ sơ chứng cứ. Người của bên mua, phóng viên và đại diện xưởng dệt cùng nhìn thấy toàn bộ chuỗi khóa hàng anh ta dựng lên.
Anh ta định đứng dậy, nhưng đã muộn.
Sự im lặng của căn phòng đè xuống anh nhanh hơn bất kỳ câu chửi nào.
Tôi không cần nói thêm gì nữa. Bộ sưu tập của tôi đã nói thay tất cả.
Đêm đó, đơn đặt hàng đổ về xưởng mới nhanh hơn tôi tưởng. Cái tên Phòng Nhầm lan ra như một câu chuyện mà người ta muốn kể lại cho nhau nghe, không phải vì nó hoàn hảo, mà vì nó thật.
Tôi từng nghĩ mình mất cả sự nghiệp vì một đêm say.
Hóa ra tôi chỉ mất lòng tin vào những người sai, để đổi lấy một con đường thuộc về mình.
Và khi tôi quay về xưởng khuya muộn, Duy lại nằm nghiêng trên sofa, tay cầm điện thoại, mắt nhắm hờ như thể cả thế giới ngoài kia đều không đủ bận để chen vào cuộc sống của tôi.
“Sao anh lúc nào cũng ở trên sofa của tôi?”
Anh mở mắt, cười rất khẽ. “Vì em cứ nhìn tôi như nhìn một sai lầm. Tôi chỉ thích ở gần những thứ em còn chưa kịp hiểu.”
Tôi ngồi xuống cạnh anh, tựa lưng vào ghế, và cuối cùng cũng dám thở thật sâu.
Tôi từng tưởng mình làm hỏng mọi thứ. Giờ tôi biết, mình chỉ vừa bước ra khỏi cánh cửa cũ và bắt đầu sống như người đã có đường đi.